Trung Quốc Super League Nữ, tên quốc tế là Chinese Women’s Super League (CWSL), là giải vô địch bóng đá nữ cấp cao nhất của Trung Quốc. Giải ra đời năm 1997 và có 12 câu lạc bộ ở mùa 2026. Các đội cuối bảng xuống giải hạng Nhất nữ (Chinese Women’s League One).
| Tên gốc | 中国足球女子超级联赛 (Chinese Women’s Super League, CWSL) |
|---|---|
| Thành lập | 1997 |
| Quốc gia | Trung Quốc |
| Đơn vị tổ chức | Từ 2026: Liên đoàn các giải bóng đá chuyên nghiệp Trung Quốc (中足联); trước đó là Liên đoàn bóng đá Trung Quốc (CFA) |
| Cấp độ | 1 (giải nữ cao nhất) |
| Số đội (mùa 2026) | 12 |
| Xuống hạng | Chinese Women’s League One (中女甲) |
| Cúp liên quan | Cúp FA nữ Trung Quốc, Siêu Cúp nữ Trung Quốc |
| Suất châu lục | AFC Women’s Champions League |
| Vô địch nhiều nhất | Shanghai Shengli (11 lần, theo Wikipedia tiếng Anh) |
| Nhà vô địch mùa 2025 | Beijing |
Từ giải thử nghiệm năm 1997 tới hôm nay
Năm 1997, khi giải Jia-A của bóng đá nam đang hút khán giả, Liên đoàn bóng đá Trung Quốc bắt đầu thử chuyên nghiệp hóa bóng đá nữ. Họ lập ra giải siêu hạng nữ trên nền giải vô địch nữ toàn quốc sẵn có. Các đội đứng đầu giải toàn quốc được dự siêu hạng, đá sân nhà sân khách, và được phép hợp tác với doanh nghiệp. Mùa đầu tiên chỉ có 4 đội.
Con đường ấy không dễ. Trình độ và sức hút của bóng đá nữ còn thấp, ít đội tham dự, tài trợ và kế hoạch truyền hình thường xuyên đổ bể. Thể thức vì vậy thay đổi liên tục.
Năm 2003, giải đá hai giai đoạn theo hai khu vực Bắc, Nam. Năm 2004, tên gọi Women’s Super League lần đầu được dùng, thể thức đổi thành vòng bảng khu vực cộng loại trực tiếp cho hai đội đầu mỗi khu. Cũng năm đó, để chuẩn bị cho World Cup nữ 2007 và Olympic 2008, mỗi đội chỉ được tung ra sân tối đa 5 cầu thủ trên 25 tuổi. Sau thất bại của đội tuyển nữ ở Olympic Athens, CFA đưa vào cơ chế lên xuống hạng. Tháng 2/2005, thể thức sân nhà sân khách bị bỏ vì lý do tài chính.
Từ 2011 đến 2014, giải đổi tên thành Giải bóng đá nữ quốc gia (Women’s National Football League) và tạm ngừng lên xuống hạng do thiếu đội và thiếu cầu thủ.
Năm 2015, CFA khởi động lại giải với cái tên Women’s Super League. Lần này có hạng đấu thứ hai đi kèm.
Giai đoạn đầu tư mạnh sau 2016
Mùa 2015 có nhà tài trợ danh nghĩa là LeTV. Tám đội đầu giải toàn quốc 2014 vào siêu hạng, tám đội sau xuống hạng Nhất nữ. CFA cũng cho phép từ 2016 mỗi câu lạc bộ dùng hai ngoại binh.
Sau mùa 2016, tiền đổ vào bóng đá nữ tăng nhanh. Những nhà đầu tư như Quanjian Group hay Guotai Junan Securities đẩy lương cầu thủ lên cao và mang về các ngôi sao từ châu Âu. Cristiane rời Paris Saint-Germain tới Changchun Zhuoyue. Asisat Oshoala từ Arsenal và Gaëlle Enganamouit từ FC Rosengård cùng tới Dalian Quanjian. Isabell Herlovsen, vua phá lưới Toppserien 2016, chuyển tới Jiangsu Suning.
Năm 2019, LeTV vi phạm hợp đồng và CFA ký tài trợ mới với China Taiping. Liên đoàn cũng đưa ra yêu cầu: câu lạc bộ muốn dự Chinese Super League (nam) phải có đội nữ tham gia giải.
Thể thức thi đấu mùa 2025 và thay đổi năm 2026
Mùa 2025 là mùa thứ 25 của giải, có 12 đội. Đội vô địch giành quyền dự vòng bảng AFC Women’s Champions League 2026–27, hai đội cuối bảng xuống hạng trực tiếp. So với trước, số ngoại binh được ra sân mỗi trận tăng từ 2 lên 3, trận play-off trụ hạng bị bỏ, suất xuống hạng đổi từ 1,5 thành 2.
Từ năm 2026, theo chủ trương tách quản lý khỏi điều hành, đơn vị tổ chức chuyển từ CFA sang Liên đoàn các giải bóng đá chuyên nghiệp Trung Quốc. Tên giải cũng đổi từ “Giải siêu hạng nữ của Liên đoàn bóng đá Trung Quốc” thành “Giải siêu hạng bóng đá nữ Trung Quốc”.
12 đội tham dự mùa 2026
- Beijing (Bắc Kinh) – sân Tiên Nông Đàn
- Changchun Dazhong Zhuoyue (Trường Xuân)
- Guangdong (Thâm Quyến)
- Guangxi Pingguo (Bình Quả)
- Jiangsu Wuxi (Vô Tích)
- Liaoning Shenbei Hefeng (Thẩm Dương)
- Shaanxi Zhidan (Thiểm Tây)
- Shandong Jinghua (Tảo Trang)
- Shanghai (Thượng Hải)
- Sichuan (Miên Dương)
- Wuhan Jiangda (Vũ Hán)
- Zhejiang Hangzhou (Hàng Châu)
Các nhà vô địch
| Năm | Đội vô địch | Năm | Đội vô địch |
|---|---|---|---|
| 1997 | Guangdong Haiyin | 2012 | Dalian Shide |
| 1998 | Shanghai Yuandong | 2013 | Dalian Aerbin |
| 1999 | Beijing Chengjian | 2014 | Team Shanghai |
| 2000 | Shanghai STV Youlizi | 2015 | Shanghai Guotai Jun’an |
| 2001 | Shanghai STV | 2016 | Dalian Quanjian |
| 2002 | Beijing Chengjian | 2017 | Dalian Quanjian |
| 2003 | Shanghai STV | 2018 | Dalian Quanjian |
| 2004 | Shanghai STV | 2019 | Jiangsu Suning |
| 2005 | Shanghai STV | 2020 | Wuhan Jiangda |
| 2006 | Shanghai STV | 2021 | Wuhan Jiangda |
| 2007 | Tianjin Huisen | 2022 | Wuhan Jiangda |
| 2008 | Dalian Shide | 2023 | Wuhan Jiangda |
| 2009 | Jiangsu Huatai | 2024 | Wuhan Jiangda |
| 2010 | Shanghai STV | 2025 | Beijing |
| 2011 | Team Shanghai |
Wikipedia tiếng Anh gộp các tên gọi qua từng thời kỳ theo dòng câu lạc bộ. Theo cách tính đó, Shanghai Shengli dẫn đầu với 11 chức vô địch, Dalian Quanjian (đã giải thể) có 6, Wuhan Jiangda 5, Beijing 3, Jiangsu Suning 2.
Wuhan Jiangda vô địch 5 mùa liền từ 2020 tới 2024. Chuỗi ấy dừng lại ở mùa 2025. Ở vòng cuối, Beijing thắng đậm Liaoning Baiye, vượt lên hơn 1 điểm và lên ngôi. Đây là chức vô địch đầu tiên của Beijing sau 23 năm.
Xem kết quả Trung Quốc Super League Nữ ở đâu?
Kết quả, lịch thi đấu và bảng xếp hạng bóng đá các giải của Trung Quốc được cập nhật tại KQBD 247. Bạn có thể theo dõi chung ở trang kết quả bóng đá Trung Quốc, còn giải nam cùng cấp là VĐQG Trung Quốc.
Nguồn tham khảo: Wikipedia – Chinese Women’s Super League, Wikipedia – 中国足球女子超级联赛, Wikipedia – 2025年中国足球女子超级联赛






